Ấn tượng đầu tiên khi mới bước chân đến ngôi làng cổ này là đâu đâu cũng thấy những bó tơ vàng, tơ trắng óng ả phơi trên những thanh sào tre. Trong những xưởng kéo tơ, các bà các chị miệt mài làm việc trong màn khói bốc nghi ngút từ nồi nước luộc kén.

 "Hỡi cô thắt dải lưng xanh

                                     Có về Nam Định với anh thì về

                                     Nam Định có bến Đò Chè

                                     Có tàu Ngô Khách, có nghề ươm tơ"

Câu ca đưa ta về với làng nghề ươm tơ làng Cổ Chất, xã Phương Đình, huyện Trực Ninh, Nam ĐịnhNgôi làng nhỏ nằm bên dòng sông Ninh Cơ thơ mộng... 

Ấn tượng đầu tiên khi mới bước chân đến ngôi làng cổ này là đâu đâu cũng thấy những bó tơ vàng, tơ trắng óng ả phơi trên những thanh sào tre. Trong những xưởng kéo tơ, các bà các chị miệt mài làm việc trong màn khói bốc nghi ngút từ nồi nước luộc kén. Kén tằm cho vào nồi được khỏa liên tục thi nhau nhảy lên bàn kéo sợi. Sợi tơ chui qua một lỗ nhỏ rồi cuốn mình vào guồng đang quay tít.Những bó tơ trắng, vàng từ nơi đây sẽ dệt nên biết bao tà áo, tô thắm cho vẻ duyên dáng của người con gái Việt Nam.

Nghề chăn tằm, ươm tơ phát triển mạnh nhất từ sau khi thực dân Pháp thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (năm 1897), Cổ Chất nói riêng và Trực Ninh nói chung lúc đó trở thành vùng vành đai nguyên liệu cung cấp cho công ty bông vải sợi Bắc Kỳ. Ngày nay, làng còn khoảng 500 hộ theo nghề, mỗi hộ có bình quân 2 bếp ươm tơ. 

Hỏi về nguồn gốc của nghề, ai nấy đều lắc đầu không nhớ, chỉ biết "đã có từ lâu lắm rồi, sinh ra đã có và cứ lớn lên là biết làm". Nhân lực chủ yếu là phụ nữ, đàn ông phụ giúp củi than đốt lò và phơi phóng, còn trẻ em và người già thì làm những việc nhẹ nhàng hơn như phân loại kén và nhộng.

Người làng ươm cả tơ trắng và tơ vàng. Kén tằm được nhập về từ những vùng lân cận hoặc cũng có thể ở xa hơn như Thanh Hóa, Hà Nam hay Thái Bình. Sau 20-25 ngày kén tằm trưởng thành và có thể đem đi kéo sợi. Tơ sau khi phơi khô được các lái buôn đến tận nơi nhập hàng, một phần đổ cho các xưởng dệt, còn phần lớn xuất sang Lào, Thái Lan hoặc Campuchia. Ngoài ra, con nhộng sau khi tuốt kén cũng là món ăn rất ngon và bổ dưỡng - đây cũng chính là nguồn thu nhập phụ của làng.

Dạo quanh làng Cổ Chất, ta sẽ cảm thấy tâm hồn mình nhẹ bẫng bởi cảnh thanh bình của sông nước, của chùa chiền, của nhà thờ, bởi những ngôi nhà cổ, những người đàn ông, những người đàn bà ươm tơ, quay tơ, phơi tơ, cân tơ và dệt vải... Thấy yêu thêm làng quê Việt Nam...

Ảnh mô tả

Ảnh mô tả

Ảnh mô tả

Ảnh mô tả

Ảnh mô tả


                                                                        Trang Nguyên (Tổng hợp)

Bình luận